Bậc Thầy Thẻ Sao – 156

Danh tiếng của Chân Mật không hề thua kém Nhị Kiều Giang Đông, dân gian vẫn truyền tụng câu nói “Giang Đông có Nhị Kiều, Hà Bắc có Chân Mật”. Nghe nói, Chân Mật từ nhỏ đã khác thường, các cô gái khác đều học nữ công, còn nàng lại thích đọc sách biết chữ hơn, cho rằng không đọc sách thì không thể phân biệt đúng sai.

Có lẽ ứng với câu “hồng nhan bạc mệnh”, cuộc đời nàng trải qua vô cùng trắc trở. Tuổi nhỏ mất cha, lớn lên được Viên Thiệu để ý, chọn làm vợ cho con trai thứ Viên Hy. Sau này Tào Tháo dẫn quân đánh chiếm Nghiệp Thành, Chân Thị vì dung mạo tuyệt thế mà được Tào Phi để ý, lại tái giá với Tào Phi.

Vốn dĩ hai người vợ chồng hòa thuận, Chân Mật còn sinh cho Tào Phi một người con trai là Tào Duệ và một người con gái là Đông Hương Công Chúa. Nhưng sau khi Tào Phi kế vị Ngụy Vương rồi xưng đế, phi tần trong hậu cung dần dần nhiều lên, Tào Phi sủng ái Quách Hoàng Hậu, lạnh nhạt với Chân Mật, mang Quách Hoàng Hậu về cung, lại để Chân Thị ở lại Nghiệp Thành. Chân Mật trong lòng vô cùng thất vọng, trong thư gửi cho Tào Phi cũng để lộ ra một vài lời lẽ đau buồn, ghen tuông. Tào Phi vô cùng tức giận, ban chết cho Chân Thị, đồng thời cho chôn cất bà tại Nghiệp Thành.

Nghe nói cái chết của bà vô cùng thê lương, mãi cho đến khi con trai Tào Duệ kế vị, mới truy phong cho bà thụy hiệu “Văn Chiêu Chân Hoàng Hậu”, đồng thời cho di dời linh cữu của bà về hoàng lăng. Cuộc đời này của Chân Mật quả thực rất bi thảm, chồng trước bị giết, người chồng tái giá lại có mới nới cũ, lạnh nhạt với bà, cuối cùng uất ức buồn bã, lại còn bị Tào Phi ban chết. Con trai tuy đã kế thừa vương vị, đáng tiếc bà đã không còn nhìn thấy được nữa.

Kỹ năng của lá bài Chân Mật này, Tạ Minh Triết quyết định thiết kế dựa theo “Lạc Thần Phú” trong truyền thuyết.

“Lạc Thần Phú” do Tào Thực viết là một áng văn chương hoa mỹ lưu truyền ngàn đời, có người nói là viết cho Chân Mật, mỹ nữ “Lạc Thần” được miêu tả trong đó chính là Chân Mật. Nhưng vì Chân Mật là chị dâu của mình, Tào Thực không tiện chỉ đích danh, nên đã mượn hình ảnh Lạc Thần để miêu tả vẻ đẹp của Chân Mật. Nhưng cũng có một cách nói khác, Tào Thực mượn hình tượng Lạc Thần để bày tỏ nỗi nhớ mong về nghĩa lớn quân thần, phản ánh nỗi buồn khổ vì lòng trung thành của mình không được quân vương thấu hiểu.

Bất kể lịch sử thật sự thế nào, Chân Mật nhờ đó mà được mệnh danh là “Lạc Thần”, vừa hay có thể dùng những từ ngữ được miêu tả trong Lạc Thần Phú để đặt tên cho kỹ năng của bà. Ví dụ như “Phiên Nhược Kinh Hồng, Uyển Nhược Du Long” (Nhẹ nhàng như chim hồng bay lượn, uyển chuyển như rồng lướt) trong Lạc Thần Phú chính là để miêu tả dáng vẻ nhẹ nhàng của người phụ nữ. Hai câu miêu tả này dùng cho mỹ nữ Chân Mật cũng không hề quá đáng, dù sao Chân Mật quả thực là một mỹ nữ nổi tiếng được ghi lại trong lịch sử.

Tạ Minh Triết vẽ tranh mỹ nữ dễ như trở bàn tay, rất nhanh đã vẽ ra trên giấy Tinh Vân một mỹ nhân cổ đại dáng người thướt tha, tay còn cầm chiếc quạt tròn rất thịnh hành lúc bấy giờ.

Chân Mật (Hệ Mộc)

Cấp độ: 1

Sao tiến hóa: ★

Số lần sử dụng: 1/1 lần

Thuộc tính cơ bản: Máu 800, Công 1200, Thủ 800, Nhanh nhẹn 30, Bạo kích 30%

Kỹ năng kèm theo: Phiên Nhược Kinh Hồng (Nhẹ Như Chim Hồng Bay) (Chân Mật là một mỹ nữ nổi tiếng, dáng người nhẹ nhàng như chim hồng bay lượn. Khi bà kích hoạt kỹ năng “Phiên Nhược Kinh Hồng”, khả năng né tránh của bản thân tăng 100%, trong 10 giây tiếp theo có thể né tránh mọi đòn tấn công và kỹ năng khống chế “không khóa mục tiêu” của địch; thời gian hồi chiêu 30 giây)

Kỹ năng kèm theo: Uyển Nhược Du Long (Uyển Chuyển Như Rồng Lượn) (Khi Chân Mật di chuyển, uyển chuyển như rồng lượn. Khi bà kích hoạt trạng thái “Uyển Nhược Du Long”, lập tức tăng 500% tốc độ di chuyển của bản thân, kéo dài 15 giây. Trong thời gian trạng thái Uyển Nhược Du Long được kích hoạt, bà có thể khóa một trong những mục tiêu địch có lượng máu thấp nhất trong phạm vi 23 mét, tăng tốc di chuyển đến trước mặt đối phương, đồng thời dùng chiếc quạt tròn trong tay tấn công mục tiêu, mỗi lần tấn công gây 80% sát thương bạo kích hệ Mộc, sau khi liên kích ba lần sẽ gây thêm 100% sát thương đơn mục tiêu hệ Mộc; thời gian hồi chiêu 30 giây)

Đây là một lá bài có khả năng né tránh cao, dựa vào việc né tránh để thoát khỏi sát thương của đối phương.

Phần lớn các kỹ năng thẻ bài trên đấu trường Tinh Thẻ đều không phải là khóa mục tiêu, mà là tấn công diện rộng hoặc kỹ năng chỉ hướng, cho nên, Chân Cơ một khi đã kích hoạt né tránh, gần như có thể đạt được trạng thái bất tử miễn nhiễm sát thương trong một khoảng thời gian.

Kỹ năng thứ hai lại là kỹ năng ám sát đơn giản thô bạo nhất, dựa vào tốc độ di chuyển linh hoạt, ám sát lá bài có lượng máu thấp nhất. Trong các trận chiến đồng đội, vì rất khó khóa mục tiêu của đối phương, cho nên trong thiết kế kỹ năng của Chân Cơ đã thêm vào thiết kế “khóa mục tiêu có lượng máu thấp nhất”, có thể giúp bà nhanh chóng nhắm vào lá bài còn ít máu của đối phương, đột kích qua đó để thu hoạch, bù đắp sự thiếu hụt về mặt tấn công đơn mục tiêu của phe mình.

Việc biến Chân Cơ thành một lá bài có khả năng né tránh cao, bạo kích cao, hoàn toàn là lấy cảm hứng từ những miêu tả trong “Lạc Thần Phú”. Tạ Minh Triết vốn định làm bà thành bài Vong Ngữ, nhưng kỹ năng Vong Ngữ về cái chết thê lương của Chân Cơ sẽ trùng lặp với kỹ năng Vong Ngữ của Giả Nghênh Xuân trong Hồng Lâu Mộng. Không bằng cứ làm thành một lá bài có khả năng né tránh cao, trong các trận chiến đồng đội cũng sẽ hữu dụng hơn.

Làm xong Chân Cơ, còn lại hai anh em Tào Phi và Tào Thực.

Tạ Minh Triết vốn định làm liên kết “Kiến An Tam Tào”, để ba cha con Tào Tháo, Tào Phi và Tào Thực cùng nhau làm thơ. Nhưng mà, làm như vậy nhiều nhất cũng chỉ tạo ra hiệu ứng buff tăng cường, không khác mấy so với các lá bài liên kết khác, cảm giác không có gì mới mẻ. Hơn nữa, Tào Tháo hiện tại đã có ba kỹ năng, nếu làm liên kết sẽ làm giảm thuộc tính của ông, lỡ như không thu hút được sự chú ý mà bản thân lại bị tiêu diệt thì chẳng phải rất xấu hổ sao?

Nếu làm Tào Phi và Tào Thực thành một cặp bài liên kết, Tạ Minh Triết ngược lại đã nghĩ ra một ý tưởng rất khéo léo.

Đó chính là câu chuyện “huynh đệ tương tàn” nổi tiếng trong lịch sử.

Người thừa kế của nước Ngô, nước Thục đều tương đối bình thường, còn người thừa kế của Tào Tháo lại người sau giỏi hơn người trước, có trưởng tử Tào Ngang, còn có “thần đồng” Tào Xung từ nhỏ đã biết cân voi. Sau khi Tào Ngang và Tào Xung qua đời, còn có hai ứng cử viên là Tào Phi và Tào Thực.

Trong thời gian Tào Tháo tại vị, các đại thần đã chia thành hai phe, có người ủng hộ Tào Phi, cũng có người ủng hộ Tào Thực. Cuối cùng đương nhiên là phe Tào Phi thắng thế, kế thừa vương vị trở thành “Ngụy Văn Đế”. Nhưng tính cách của Tào Phi trước nay vẫn bạc bẽo, sau khi lên làm hoàng đế, ông ta vẫn luôn ganh ghét người em trai tài hoa hơn người của mình là Tào Thực, thế là ông ta cố tình gây khó dễ, bắt Tào Thực phải làm một bài thơ trong vòng bảy bước, nếu không sẽ xử tử Tào Thực.

Tào Thực biết anh trai mình đang nghĩ gì, ông lập tức bình tĩnh suy nghĩ, và quả thực đã làm ra một bài thơ lưu truyền đến tận ngày nay trong vòng bảy bước: “Nấu đậu dùng làm canh, lọc đậu để lấy nước. Cành đậu đốt dưới nồi, hạt đậu khóc trong nồi. Vốn cùng một gốc sinh, sao nỡ đốt nhau quá vội?”

Vài câu thơ đơn giản không chỉ thể hiện tài hoa phi phàm của Tào Thực, mà còn đang nói với Tào Phi rằng: Anh em chúng ta vốn là ruột thịt, không nên nghi kỵ và oán hận lẫn nhau. Tào Phi nghe xong vô cùng xấu hổ, từ đó từ bỏ ý định giết Tào Thực, để Tào Thực đi làm một vị vương gia nhàn tản.

Điển cố “huynh đệ tương tàn” này hoàn toàn có thể làm thành một kỹ năng liên kết rất đặc sắc, để Tào Phi chủ động khởi xướng, Tào Thực bị động hưởng ứng, sau đó gây ra một số ảnh hưởng cho xung quanh.

Đương nhiên, trước khi làm kỹ năng liên kết, phải làm ra hai lá bài Tào Phi, Tào Thực trước đã.

Con người Tào Phi khắc nghiệt bạc bẽo, âm hiểm độc ác, tuy là một chính trị gia rất lợi hại, nhưng chung quy vẫn thiếu chút tình người. Có thể ban chết cho người vợ Chân Mật, lại còn suýt nữa ép chết em ruột của mình, có thể thấy trong lòng ông ta, quan niệm về tình người vô cùng lạnh nhạt.

Nhưng từ góc độ của một quân vương mà nói, Tào Phi cũng là một vị hoàng đế rất có năng lực. Sau khi kế vị, ông kiên quyết nắm giữ toàn bộ quyền lực, thành lập Trung Thư Tỉnh, đồng thời áp dụng chế độ tuyển chọn quan lại “Cửu Phẩm Trung Chính Chế”, điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong toàn bộ lịch sử Trung Quốc, việc khai sáng ra chế độ khoa cử đời sau cũng chịu ảnh hưởng từ “Cửu Phẩm Trung Chính Chế” của Tào Phi.

Về mặt văn học, Tào Phi đã viết một bộ “Điển Luận” khai sáng ra “văn học phê phán”, coi như là thủy tổ của loại văn nghị luận phê phán, đóng vai trò thúc đẩy vô cùng quan trọng đối với sự phát triển văn học lúc bấy giờ.

Trong số các bài thơ ông viết, nổi tiếng hơn cả là “Yên Ca Hành”, lấy góc nhìn của một người phụ nữ để miêu tả những hiện tượng xã hội lúc bấy giờ, ví dụ như “Tiện thiếp cô đơn giữ phòng trống, lòng buồn nhớ chàng không dám quên, bất giác lệ rơi ướt xiêm y”. Một người đàn ông có thể viết ra những câu thơ như vậy, có thể thấy bút lực của Tào Phi vẫn vô cùng tinh tế.

Thiết kế của lá bài này, Tạ Minh Triết nghĩ ra ba kỹ năng.

Kỹ năng thứ nhất lấy tư liệu từ những thủ đoạn chính trị của Tào Phi. Ông rất giỏi đấu tranh chính trị, sau khi giành chiến thắng trong cuộc đấu tranh sẽ không trực tiếp giết chết đối thủ, mà quen với việc lưu đày đối thủ đến những nơi xa xôi hẻo lánh, ví dụ như Hán Hiến Đế, còn có Tào Thực, Tào Chương sau này, đều bị ông ta lưu đày đi xa, để không ảnh hưởng đến quyền lực của mình. Nếu thiết kế thành kỹ năng thẻ bài, có thể tức thời trục xuất thẻ bài ra khỏi một phạm vi nào đó.

Kỹ năng thứ hai là tập trung quyền lực. Ông cho rằng làm hoàng đế nhất định phải nắm giữ quyền lực, không thể để quyền lực lớn bị phân tán. Tập trung quyền lực có thể làm thành một kỹ năng hấp thụ sức tấn công, giúp Tào Phi có được sức bộc phát cực mạnh trong thời gian ngắn.

Còn có những đóng góp về mặt văn học của ông, “Điển Luận” với tư cách là bộ luận thuyết mang tính phê phán đầu tiên trong lịch sử, có thể dùng để phê phán lá bài chỉ định, sử dụng như một kỹ năng khống chế.

Sau khi nghĩ xong kỹ năng của lá bài Tào Phi, tiếp theo là Tào Thực.

So với sự tàn nhẫn độc ác của anh trai Tào Phi, Tào Thực thực ra lại thích hợp hơn với vai trò một nhà thơ nhàn tản. Tài năng chính trị của ông không bằng Tào Phi, đây cũng là nguyên nhân chủ chốt khiến ông thất bại trong cuộc tranh giành quyền lực.

Điển cố nổi tiếng nhất của Tào Thực chính là “Thất Bộ Thành Thi” (Bảy Bước Thành Thơ). Nếu làm thành kỹ năng thẻ bài, có thể để ông ta ngâm một bài thơ trong vòng bảy bước, đồng thời gây ra một số ảnh hưởng cho các mục tiêu địch trong phạm vi. Ngoài ra, “Lạc Thần Phú” do ông viết là một áng thơ văn lưu truyền ngàn đời, văn chương hoa mỹ, khiến rất nhiều nhà thơ, nhà từ đời sau đều vô cùng tán thưởng.

Tào Thực ngày thường đặc biệt thích uống rượu làm thơ, còn từng vì uống rượu mà gây ra chuyện. Có một lần trong thời gian Tào Tháo ra ngoài, Tào Thực uống say, nhân lúc có hơi men, đã tự ý ngồi lên xe ngựa của hoàng gia, đồng thời tự tiện mở cổng lớn của hoàng cung là “Tư Mã Môn”. Không chỉ vậy, ông ta còn cưỡi xe ngựa phóng nhanh trên con đường cấm chỉ dành cho hoàng đế cử hành điển lễ, đây chính là một tội đại nghịch bất đạo.

Tào Tháo vì vậy mà vô cùng tức giận, đối với Tào Thực đặc biệt thất vọng. Tào Thực cũng từ đó mất đi sự sủng ái của cha, rơi vào thế yếu trong cuộc tranh giành ngôi vị với Tào Phi.

Say Rượu Xông Tư Mã Môn, coi như là một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời Tào Thực. Nếu thiết kế thành kỹ năng thẻ bài, có thể dùng làm một kỹ năng gây nhiễu loạn cho toàn bộ phe địch, hoàn toàn làm rối loạn đội hình đối thủ.

Tạ Minh Triết ghi nhớ thiết kế kỹ năng của hai lá bài Tào Phi, Tào Thực vào lòng, ngay sau đó vẽ hình tượng của họ.

Nhan sắc của hai anh em này đều không thấp, nhưng khí chất lại hoàn toàn khác nhau.

Vẻ ngoài của Tào Phi trông tương đối âm nhu. Với tư cách là một đế vương, ông mình mặc áo long bào màu đen tượng trưng cho địa vị chí tôn, đầu đội vương miện, tàn nhẫn độc ác, trong ánh mắt ẩn chứa một sự sắc bén khiến người ta không dám nhìn thẳng.

Tào Thực lại là một nhà thơ nhàn tản, quần áo cũng không trang trọng bằng, Tào Thực thường xuyên uống rượu trông rất phong lưu phóng khoáng, tiêu sái không gò bó.

Tạ Minh Triết dựa theo sự hiểu biết của mình, vẽ xong Tào Phi và Tào Thực, ngay sau đó thiết kế kỹ năng cho họ.

Tào Phi (Hệ Mộc)

Cấp độ: 1

Sao tiến hóa: ★

Số lần sử dụng: 1/1 lần

Thuộc tính cơ bản: Máu 800, Công 1200, Thủ 800, Nhanh nhẹn 30, Bạo kích 30%

Kỹ năng kèm theo: Lưu Đày (Tào Phi rất giỏi đấu tranh chính trị, đối với những người có uy hiếp đến mình, ông sẽ không trực tiếp xử tử để tránh mang tiếng xấu, mà dùng cách “lưu đày” để trục xuất đối phương đến những vùng đất xa xôi hẻo lánh không ảnh hưởng đến mình. Khi Tào Phi kích hoạt kỹ năng “Lưu Đày”, có thể trục xuất lá bài chỉ định đến bất kỳ vị trí nào ngoài phạm vi 30 mét quanh thân, đồng thời khiến lá bài đó không thể di chuyển trong 5 giây; thời gian hồi chiêu 60 giây)

Kỹ năng kèm theo: Phê Phán (Tào Phi thích phê phán một số bài văn không hay, đồng thời đã viết riêng một cuốn luận thuyết mang tính phê phán; khi Tào Phi kích hoạt kỹ năng “Phê Phán”, ông có thể phê bình giáo dục lá bài chỉ định của phe địch, khiến đối phương rơi vào trạng thái Câm Lặng, không thể tung kỹ năng trong 5 giây; thời gian hồi chiêu 60 giây)

Kỹ năng kèm theo: Tập Quyền (Tào Phi cho rằng, làm lãnh đạo nhất định phải tập trung những quyền lực quan trọng vào tay mình, như vậy mới có thể khiến thuộc hạ nghe lời. Khi Tào Phi kích hoạt kỹ năng “Tập Quyền”, ông có thể dùng 5 giây thời gian, hấp thụ 2% sức tấn công cơ bản từ mỗi lá bài của cả phe ta và phe địch trong phạm vi 30 mét quanh thân. Sau khi hấp thụ xong, sẽ tung một đòn tấn công về hướng chỉ định, gây 220% sát thương bạo kích hệ Mộc cho tất cả các mục tiêu địch trên đường đi; mỗi trận đấu chỉ được dùng một lần)

Kỹ năng kèm theo: Huynh Đệ Tương Tàn (Kỹ năng liên kết; khi Tào Thực có mặt trên sân, Tào Phi lo lắng em trai sẽ uy hiếp đến địa vị của mình, ép buộc em trai phải làm một bài thơ trong vòng bảy bước, nếu Tào Thực không thể làm thơ trong bảy bước, Tào Phi sẽ giết Tào Thực; nếu Tào Thực thuận lợi tung ra kỹ năng Thất Bộ Thành Thi, Tào Phi trong lòng áy náy, sẽ lưu đày Tào Thực đến vị trí chỉ định, đồng thời khiến Tào Thực miễn nhiễm mọi sát thương trong 5 giây tiếp theo)

Tào Thực (Hệ Mộc)

Cấp độ: 1

Sao tiến hóa: ★

Số lần sử dụng: 1/1 lần

Thuộc tính cơ bản: Máu 1200, Công 800, Thủ 1200, Nhanh nhẹn 30, Bạo kích 30%

Kỹ năng kèm theo: Thất Bộ Thành Thi (Tào Thực văn tài xuất chúng, có thể làm một bài thơ trong vòng bảy bước. Khi Tào Thực kích hoạt kỹ năng “Thất Bộ Thành Thi”, ông sẽ từ vị trí hiện tại nhanh chóng đi bảy bước về hướng chỉ định để suy nghĩ câu thơ, trong thời gian đi bộ miễn nhiễm mọi khống chế và sát thương. Khi đến điểm cuối, Tào Thực ngâm một bài thơ, các mục tiêu địch trong phạm vi 23 mét xung quanh khâm phục tài văn chương của Tào Thực, đồng loạt rơi vào trạng thái Câm Lặng trong 3 giây; thời gian hồi chiêu 60 giây)

Kỹ năng kèm theo: Lạc Thần Bi Ca (Tào Thực viết một bài “Lạc Thần Phú” để miêu tả một người phụ nữ xinh đẹp, đáng tiếc ông chỉ có thể gặp vị Lạc Thần này trong mơ. Tào Thực ngâm những câu thơ trong “Lạc Thần Phú”, nỗi bi thương lan tỏa đến các mục tiêu địch xung quanh, khiến tất cả các mục tiêu địch giảm 50% sức phòng thủ, kéo dài 5 giây; thời gian hồi chiêu 60 giây)

Kỹ năng kèm theo: Say Xông Tư Mã Môn (Tào Thực ngày thường thích uống rượu, lần này sau khi uống say ý thức không còn tỉnh táo, cưỡi ngựa xông vào vùng cấm phạm lỗi lớn; khi kích hoạt kỹ năng “Say Xông Tư Mã Môn”, Tào Thực có thể triệu hồi ngựa cưỡi của mình, xoay người lên ngựa, tăng 500% tốc độ di chuyển, đồng thời xông vào giữa đội hình địch từ hướng chỉ định, đẩy lùi mục tiêu địch bị va chạm 3 mét; thời gian hồi chiêu 5 phút)

Kỹ năng kèm theo: Huynh Đệ Tương Tàn (Kỹ năng liên kết; khi Tào Phi khởi xướng kỹ năng liên kết, ép buộc Tào Thực phải làm thơ trong vòng bảy bước, Tào Thực có thể sử dụng kỹ năng “Thất Bộ Thành Thi” để hưởng ứng liên kết của anh trai. Nếu kỹ năng này vừa hay đang trong thời gian hồi chiêu, Tào Thực sẽ bị Tào Phi giết chết. Sau khi Tào Thực bị tiêu diệt sẽ kích hoạt kỹ năng Vong Ngữ “Huynh Đệ Tương Tàn”, khiến toàn bộ thẻ bài phe địch chết lặng rơi vào trạng thái Sợ Hãi, không thể thực hiện bất kỳ thao tác nào trong 3 giây)

Liên kết của hai anh em này là kỹ năng liên kết thú vị nhất mà Tạ Minh Triết từng thiết kế từ trước đến nay.

Bởi vì nó là một liên kết có thể lựa chọn.

Khi Tào Phi tung liên kết, nếu Tào Thực có thể làm thơ trong bảy bước, Tào Phi sẽ không giết Tào Thực mà lưu đày Tào Thực, tương đương với việc để Tào Thực dịch chuyển tức thời đến vị trí chỉ định, Tào Thực lại kích hoạt kỹ năng “Say Xông Tư Mã Môn” làm rối loạn đội hình địch, có thể nói là một pha phối hợp dịch chuyển tức thời khống chế sân đấu của hai anh em.

Nếu Tào Thực không hưởng ứng Thất Bộ Thành Thi, Tào Phi sẽ tiêu diệt Tào Thực ngay lập tức, sau đó kích hoạt khống chế Sợ Hãi diện rộng “Huynh Đệ Tương Tàn”.

Nếu thật sự ra sân thi đấu, đối thủ có lẽ sẽ thật sự chết lặng.

—— Tên điên Chú Béo này, làm thẻ bài điên lên đến cả em ruột cũng giết.

Giết em trai rồi còn bắt chúng ta phải sợ hãi tập thể, chúng ta có thể làm gì bây giờ? Chỉ có thể chết lặng xem hai anh em các người mặc sức biểu diễn thôi.

Lời tác giả:

Có độc giả đề nghị nên trực tiếp vào thi đấu, đừng viết về việc thiết kế thẻ bài nữa. Nhưng nếu tôi không viết về những thiết kế thẻ bài này, mà trực tiếp để Tạ Minh Triết mang Tào Tháo, Tào Phi, Tào Thực, Gia Cát Lượng và Hoàng Nguyệt Anh ra tiêu diệt 20 lá bài của đối phương, thì trận đấu như vậy xem có thú vị không? Đến lúc đó chắc chắn sẽ thấy khó hiểu, phần lớn độc giả sẽ không hiểu được.

Cuốn sách này là về đối chiến thẻ bài, thẻ bài chính là cốt lõi. Tôi muốn chịu trách nhiệm với cuốn sách này, chịu trách nhiệm với mỗi một lá bài được Triết nhây thiết kế một cách tỉ mỉ.

Hy vọng mọi người sẽ thích những lá bài này, chứ không chỉ muốn xem nhân vật chính “bá đạo”. Không có thẻ bài thì làm sao mà thi đấu được phải không 😉

Chia sẻ:

Gửi phản hồi